• CHÚNG TÔI LÀM GÌ
    CHÚNG TÔI LÀM GÌ

    Hoạt động của Trinh Foundation Australia là nhằm giúp đỡ những người Việt Nam lập ra ngành Trị Liệu Âm Ngữ và xem ngành này như là một ...

  • TÌNH NGUYỆN VIÊN
    TÌNH NGUYỆN VIÊN

    Bạn có thể giúp đỡ Trinh Foundation bằng nhiều cách – và bạn cũng không cần phải rởi khỏi đất nước, nếu bạn không muốn. Chúng tôi luôn tìm ...

  • CÔNG VIỆC HIỆN TẠI
    CÔNG VIỆC HIỆN TẠI

    TFA hợp tác với một số cơ sở giáo dục và viện lâm sàng trên khắp Việt Nam để thực hiện sứ mệnh mang ngành âm ngữ trị liệu đến Việt Nam ...

Công tác Giảng dạy Trực tuyến Tiếp tục với Giảng viên Andy Smidt

Tôi thực sự hài lòng và vui mừng khi được đề nghị đến Việt Nam để giảng dạy cho các sinh viên ngôn ngữ trị liệu (NNTL) về chủ đề khiếm khuyết suốt đời và AAC. Tôi đã lên kế hoạch cho việc giảng dạy, đặt lịch nghỉ phép và thậm chí sắp xếp một chuyến du lịch sau đó với gia đình. Và thế là, COVID-19 xuất hiện và tất cả kế hoạch phải thay đổi!

Tôi đã làm việc với Lindy McAllister về kế hoạch chuyển nội dung giảng dạy của mình sang định dạng trực tuyến. Về khía cạnh nào đó, điều này thật dễ dàng đối với tôi vì tôi rành công nghệ và đã giảng dạy trong 7 hoặc 8 năm qua cho các bằng thạc sĩ trên nền tảng hoàn toàn trực tuyến. Tôi quyết định chia việc giảng dạy thành ba phần. Phần đầu tiên liên quan đến việc cung cấp tài liệu học tập tự định hướng (self-directed learning, viết tắt: SDL) để sinh viên thực hiện trong 2 tuần trước buổi học trực tuyến đầu tiên qua Zoom. Phần thứ hai là các buổi học trực tuyến qua Zoom cùng tôi để tìm hiểu nội dung và bắt đầu áp dụng lý thuyết vào thực tế. Phần thứ ba là phương pháp học tập qua các trường hợp và chúng tôi làm việc cùng nhau về một trường hợp mỗi ngày.

Phần học tập tự định hướng liên quan đến việc tạo ra 14 tài liệu qua Sway (một ứng dụng văn phòng). Các chủ đề ít nhiều liên quan đến các bài giảng hàng tuần mà tôi đã lên kế hoạch giảng dạy trực tiếp. Chúng bao gồm các khung làm việc về khiếm khuyết, đánh giá, thiết lập mục tiêu, can thiệp, quản lý hành vi và làm việc với các đối tác giao tiếp. Chúng hoạt động giống như một cuốn sách giáo khoa dễ tương tác. Tôi còn thêm vào các bài giảng ngắn được ghi lại, các bài báo để đọc và video của khách hàng để sinh viên xem và thảo luận. Có rất nhiều tương tác trong khung trò chuyện và có cả các câu đố. Tuy nhiên, việc tạo ra tài liệu này không hề đơn giản. Thứ nhất, mỗi video cần có phụ đề tiếng Việt. Điều này liên quan đến các ứng dụng khác nhau để làm phụ đề và việc dịch tất cả nội dung đi kèm mà sau đó cần được các biên dịch viên Việt Nam kiểm tra. Có nhiều thách thức hơn nữa trong việc soạn và dịch các câu đố tự chấm điểm để đảm bảo rằng tất cả sinh viên đã bao quát được nội dung cơ bản trong mỗi phần bài tài liệu Sway. Các câu đố trắc nghiệm thường bao gồm những thay đổi tinh ý trong từ ngữ, và điều này tỏ ra thực sự khó khăn khi dịch sang tiếng Việt mà vẫn đảm bảo giữ nguyên những thay đổi từ ngữ này để thực sự xác định xem sinh viên có hiểu nội dung hay không.

Phần thứ hai bao gồm các bài giảng trực tuyến qua Zoom và phần cuối cùng liên quan đến việc học tập dựa trên trường hợp. Mỗi trường hợp sẽ cung cấp thông tin giới thiệu cho sinh viên. Sau đó, các sinh viên được cung cấp dữ liệu đánh giá để phân tích, đồng thời đặt mục tiêu và lập kế hoạch trị liệu. Vào cuối ngày, chúng tôi làm bài trình bày PowerPoint về trường hợp đó. Những buổi học này sẽ đóng vai trò như một thư viện về các trường hợp ví dụ đã được giải quyết mà các nhà trị liệu tương lai có thể dùng đến như một nguồn tài liệu. Bài kiểm tra cuối cùng yêu cầu các sinh viên tạo một bản trình bày PowerPoint (như chúng tôi đã làm cho từng trường hợp khách hàng) và sau đó được chấm điểm.

Nhìn chung, tôi tin rằng các nguồn tài nguyên được tạo ra sẽ có giá trị đối với sinh viên khi họ đạt đủ điều kiện và làm việc tại Việt Nam. Họ có thể xem lại các tài liệu Sway để ôn lại việc học của mình. Phương pháp học dựa trên trường hợp cho phép chúng tôi lồng ghép nội dung để mỗi trường hợp được chọn theo một loạt các vấn đề (đào tạo giáo viên, thái độ của gia đình đối với các khiếm khuyết, các lựa chọn việc làm cho người lớn khiếm khuyết). Điều này cho phép sinh viên áp dụng các khái niệm phức tạp vào các tình huống thực tế. Việc học hỏi chuyên sâu này sẽ giúp chuẩn bị tốt hơn cho sinh viên khi ra làm việc.

Một trong những vấn đề quan trọng đối với tôi liên quan đến những tình huống mà tôi cần phải lưu tâm về khía cạnh văn hóa. Ví dụ như, việc thấu hiểu nơi người khiếm khuyết sống và làm việc tại Việt Nam. Để tạo ra các trường hợp thực tế, tôi cần phải hiểu được thái độ và nhu cầu của xã hội để hỗ trợ sinh viên áp dụng chương trình giảng dạy rất “Úc” của tôi vào môi trường của họ. Tôi đã làm được điều này bằng cách cùng sinh viên tạo ra các trường hợp nghiên cứu điển hình. Các sinh viên đã chọn tên người, gia đình, nơi ở, cơ quan hoặc trường học. Ví dụ, tôi có một khách hàng với phụ huynh là bác sĩ và luật sư. Tôi yêu cầu sinh viên chọn việc làm cho phụ huynh và họ đã chọn ngành thực phẩm. Ngay cả khi đặt tên cho các anh chị em, các sinh viên cũng hình dung những người này theo bối cảnh địa phương. Sự nhạy cảm về văn hóa không chỉ áp dụng khi tạo ra các trường hợp mà còn cho mọi tương tác giữa tôi với sinh viên. Ví dụ, tôi phát hiện ra rằng phiên dịch viên không chỉ dịch những câu hỏi mà sinh viên đặt ra cho tôi mà còn diễn giải theo một cách phù hợp và quay lại trao đổi với sinh viên để điều chỉnh nếu phiên dịch viên cảm thấy câu hỏi đó chưa được tôn trọng. Điều này thực sự thú vị đối với tôi vì tôi có ấn tượng rằng các sinh viên rất tôn trọng và lịch sự trong cách họ đặt câu hỏi dù không nhận ra rằng phiên dịch viên đã thường xuyên cân chỉnh cách dùng từ.

Một thách thức khác là việc xây dựng mối quan hệ với sinh viên thông qua ứng dụng Zoom – và họ cũng đưa ra ý kiến về điều này. Sự giao lưu cá nhân giữa sinh viên và giảng viên thường được coi là một phần quan trọng của việc học. Tôi không thể đứng cạnh sinh viên và cùng gọi thức uống hoặc trò chuyện với họ vào đầu ngày khi học tập qua Zoom. Một trong những việc tôi làm để thu hẹp khoảng cách đó là đăng tải rất nhiều ảnh về nước Úc và yêu cầu họ gửi ảnh về Việt Nam. Sau đó, chúng tôi đã sử dụng những hình ảnh đó vào buổi học cuối cùng để làm phần hình nền video để tôi có thể “thăm quan” tất cả các địa điểm đẹp ở Việt Nam và các sinh viên cũng du lịch qua mạng đến Sydney và xem một số chú Kanguru và Koalas dễ thương. Đây là một cách nhỏ để xây đắp sự gần gũi mà tôi nghĩ là thực sự quan trọng.

Nhìn chung, tôi nghĩ rằng mình đã học được nhiều điều từ các sinh viên cũng như họ đã học được từ tôi. Tôi đã học về các giá trị và kỳ vọng của bản thân. Tôi đã có một số thái độ dựa trên văn hóa mà tôi đã không nghĩ đến. Một ví dụ là trường hợp một trẻ 14 tuổi với Hội chứng Down và không nói được rõ ràng. Một sinh viên gợi ý rằng phụ huynh nên đưa trẻ đến một buổi họp mặt gia đình, có thể là để tổ chức ăn mừng hoặc một dịp lễ hội. Phụ huynh, với tư cách là những chuyên gia về cách con mình giao tiếp, sẽ hỗ trợ sự tương tác và trẻ sẽ có nhiều cơ hội để thực hành giao tiếp trong một môi trường an toàn. Sinh viên đã đưa ra một lựa chọn phù hợp về mặt văn hóa để cho phép trẻ thực hành các kỹ năng trò chuyện bằng cách sử dụng cộng đồng gia đình của trẻ. Tôi thích thú khi sinh viên coi phụ huynh là chuyên gia về khả năng giao tiếp của con họ. Một ví dụ khác với cùng thiếu niên có Hội chứng Down trên là trẻ tuy khiếm thính nhưng có khả năng đọc viết khá tốt. Một sinh viên hỏi tôi làm cách nào mà trẻ này có thể học cách đọc nếu trẻ không nghe được. Tôi đã bối rối cho đến khi chúng tôi đưa ra nhiều câu hỏi hơn. Tôi đã cho rằng một thiếu niên Down sẽ dùng máy trợ thính vì những người với Hội chứng Down thường bị mất thính lực và vì vậy tôi đã cho rằng trẻ đã được kiểm tra thính lực và khả năng cao sẽ có máy trợ thính. Ở Việt Nam mọi chuyện không như vậy, và vì vậy những dự đoán của tôi đã hoàn toàn không chính xác.

Có rất nhiều ví dụ khác mà trong đó sinh viên đã tạo ra các tùy chọn cho các trường hợp nghiên cứu dựa trên công nghệ. Ví dụ, ở Úc, nhiều ứng dụng AAC được sử dụng trên iPad nhưng điều này không đúng ở Việt Nam. Các sinh viên đã đi tìm các giải pháp thay thế bằng cách sử dụng các ứng dụng trên điện thoại của họ, v.v. Tôi biết được rằng những sinh viên này có óc sáng tạo tuyệt vời trong việc tìm ra các giải pháp có thể hiệu quả ở Việt Nam bằng cách sử dụng kinh nghiệm của chính họ để hướng dẫn họ.

     

TIN TỨC

TFA ON FACEBOOK

TÌM NƠI TRỊ LIỆU NGÔN NGỮ

Cơ sở dữ liệu của chúng tôi có tổng cộng hơn 33 địa điểm làm việc của chuyên viên âm ngữ trị liệu và phòng khám âm ngữ trị liệu tại Việt Nam.

Câu chuyện sau tốt nghiệp

Làm thế nào để 33 chuyên viên âm ngữ trị liệu mới tốt nghiệp tại Việt Nam giúp đỡ được những người có nhu cầu.

  • Ông Điền trình bày một phần trong Luận văn Tiến sĩ của ông
    Read more
    Ông Điền trình bày một phần trong Luận văn Tiến sĩ của ông
    Chúc mừng ông Lê Khánh Điền (Ứng viên học vị Tiến sĩ, Đại học Newcastele, Úc) đã hoàn thành bài thuy...
  • Nhà Trị liệu Ngôn ngữ Nhi được Trao Học bổng
    Read more
    Nhà Trị liệu Ngôn ngữ Nhi được Trao Học bổng
    Xin chúc mừng cô Lan Oanh đã nhận được học bổng để hoàn thành khóa học Thạc sĩ Giáo dục Đặc biệt tại...

Hỗ trợ